You are here: Danh bạ web ẩm thực Chay tịnh

danh ba web ẩm thực, ẩm thực trong nước, ẩm thực nước ngoài, ẩm thực Việt Nam

Thứ bảy, Ngày 15 Tháng 11, Năm 2014

Chay tịnh

Hạnh hiếu của đức Phật

Hạnh hiếu của đức Phật

Thứ Ba, 29/01/2013, 08:50 GMT+7

Thế Tôn không chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ cùng thân quyến như thế thường nhưng Ngài đã tận tình chăm dưỡng đời sống tinh thần, khiến cho họ thăng hoa tâm linh, chứng đắc Thánh quả, giải thoát an vui. Đây mới chính là đỉnh cao của sự hiếu đạo

Đạo Phật là đạo giải thoát, giác ngộ. Ở phương diện hiếu thảo, đạo Phật còn được gọi là đạo hiếu, và chính Đức Phật là biểu trưng nhất cho tinh thần chí hiếu. Tuy nhiên, cuộc đời Phật Thích Ca lại hy sinh gần như trọn vẹn cho chúng sanh, Ngài chỉ dành một phần thời gian rất nhỏ cho cha mẹ và những người thân trong gia đình, dòng tộc. Và, với sự quan tâm hướng về gia đình thế tục vô cùng nhỏ nhoi ấy, Đức Phật đã làm được điều rất kỳ diệu là trợ duyên cho thân tộc tu học giải thoát khỏi khổ đau sanh tử luân hồi.

Hạnh hiếu của đức Phật

Đức Phật thuyết pháp lần cuối cho vua cha Suddhodana chứng đắc Thánh quả

Khi hay tin thái tử Siddhartha vượt thành xuất gia, cả kinh thành Kapilavatthu bấy giờ ai nấy đều bàng hoàng, nhưng đau khổ nhất là vua Suddhodana, di mẫu Mahà Pajàpati Gotami và công chúa Yasodhara. Không đau khổ sao được khi thái tử là niềm hy vọng của hoàng gia và cả quốc dân xứ Kapilavatthu. Ngài vượt thành ra đi và không hẹn ngày về đã để lại một khoảng trống to lớn cho tất cả mọi người trong vương quốc mà không điều gì có thể bù đắp. Hẳn nhiên, thái tử Siddhartha biết rõ sự đau buồn và thất vọng của người thân nhưng vì sự nghiệp giải thoát, giác ngộ cho tự thân và nhất là cho hết thảy chúng sanh nên Ngài quyết chí ra đi tìm đạo.

Đến khi Ngài chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác dưới cội Bồ đề, thành Phật, một bậc đạo sư tiếng tăm lừng lẫy, hóa độ các Bà la môn, vua chúa và muôn dân quay về chánh đạo nhưng lối về cố quận Kapilavatthu của Phật vẫn còn xa. Trong suốt 45 năm du phương hoằng hóa, hữu duyên mấy lần Thế Tôn trở về Kapilavatthu cùng với Tăng đoàn. Nhưng trọng tâm của những lần trở về cố hương ấy là để hoằng pháp chứ không phải chỉ đơn thuần là thăm viếng thông thường.

Trong lần đầu tiên trở về Kapilavatthu, sau khi mãn mùa an cư kiết hạ thứ hai tại Veluvana, ngoài sự thăm viếng những người thân, Đức Phật đã thuyết giảng cho vua cha Suddhodana cùng triều thần hiểu được nền tảng cơ bản của giáo pháp Như Lai và giúp vua cha thể nhập dòng Thánh, chứng đắc Sơ quả Tu đà hoàn. Di mẫu Mahà Pajàpati Gotami, công chúa Yasodhara cũng đều được ân hưởng giáo pháp giải thoát. Trong lần trở về đầu tiên này, các hoàng thân như Nanda, vương tử Rahula đã phát tâm xuất gia.

Khi nghe tin vua cha Suddhodana đã già yếu và bệnh nặng, Thế Tôn cùng với Tăng đoàn lại một lần nữa thân hành trở về Kapilavatthu sau mùa an cư thứ năm tại Vesali. Bấy giờ, vua Suddhodana đã 81 tuổi, biết mình sắp thuận thế vô thường nên đã sai đại thần Mahanama, con hoàng thân Sukkodana (Bạch Phạn vương) đi thỉnh Phật về Kapilavatthu để vua được thấy mặt lần cuối. Trong tình huống khẩn cấp, Thế Tôn đã phương tiện ngồi xe ngựa (hầu hết các hành trình hoằng hóa của Đức Phật trên khắp xứ Ấn Độ đều đi bộ) cấp tốc trở về Kapilavatthu. Trước khi vua cha Suddhodana băng hà đã kịp nghe pháp thoại nhiệm mầu về vô thường và vô ngã, chứng đắc Thánh quả A la hán, giải thoát hoàn toàn sanh tử luân hồi.

Sau khi an táng vua cha Suddhodana xong, Đức Phật đã cùng hoàng tộc bàn bạc, nghị sự đưa Mahanama, con trưởng của hoàng thân Sukkodana lên ngôi kế vị vua Suddhodana. Thời điểm này, di mẫu Mahà Pajàpati Gotami và công chúa Yasodhara cùng 500 Thích nữ sau nhiều lần xin xuất gia mà không được Phật chấp nhận đã tự xuống tóc, đắp y thô, đi bộ theo Phật đến Vesali. Sau nhiều thử thách, cuối cùng thì Đức Phật đã chấp thuận,Ni đoàn hình thành và luôn sát cánh với chư Tăng để hoằng dương Chánh pháp.

Trong mùa an cư thứ bảy tại làng Samkassa, thuộc thượng lưu sông Ganga, Thế Tôn đã lên cung trời Đao Lợi thuyết pháp cho thân mẫu, hoàng hậu Maya. Bấy giờ, hoàng hậu Maya đã tái sanh làm vị tiên trên cõi trời Đao Lợi. Thiên nữ Maya cùng với thiên chúng được nghe Vi Diệu pháp (Abhidhamma) và kinh Địa Tạng từ kim khẩu Thế Tôn mà thành tựu giải thoát.

Như vậy, những người trong thân tộc của Đức Phật đều được Ngài giáo hóa tu tập và thành tựu giải thoát. Dù rằng, Thế Tôn không chăm sóc và phụng dưỡng cha mẹ cùng thân quyến như thế thường nhưng Ngài đã tận tình chăm dưỡng đời sống tinh thần, khiến cho họ thăng hoa tâm linh, chứng đắc Thánh quả, giải thoát an vui. Đây mới chính là đỉnh cao của sự hiếu đạo. Kinh Tăng Chi Bộ I, Phật dạy: “Này các Tỷ kheo, ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào lòng tin; đối với cha mẹ theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới; đối với cha mẹ xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào bố thí; đối với cha mẹ theo ác tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú vào trí tuệ. Như vậy là làm đủ và trả ơn đủ cho mẹ và cha”.

Chư vị đệ tử xuất gia của Đức Phật, nhận mười phương chúng sanh làm cha mẹ, suốt một đời tận hiến cho chúng sanh cũng báo hiếu ân đức sanh dưỡng của ông bà cha mẹ của mình theo tinh thần này.

Read more: http://chaytinh.com/hanh-hieu-cua-duc-phat-111.html

 

Đức Phật và câu chuyện đời sống hằng ngày.

Đức Phật và câu chuyện đời sống hằng ngày.

Thứ Hai, 28/01/2013, 17:01 GMT+7

Đức Phật có thể được xem là vị giáo chủ hoạt động tích cực và nhiệt thành nhứt trên thế gian. Ngài luôn luôn bận rộn với công việc đạo pháp trọn ngày, trừ những lúc phải để ý đến vài nhu cầu vật chất. Chương trình hoạt động của Ngài được sắp xếp rất có qui củ và mực thước.

Đời sống bên trong là tham thiền nhập định và chứng nghiệm hạnh phúc Niết-Bàn, còn bên ngoài là phục vụ vị tha, nâng đỡ phẩm hạnh của chúng sanh trong khắp thế gian. Chính Ngài được tự giác, Ngài tận lực cố gắng để giác ngộ người khác và dẫn dắt chúng sanh ra khỏi vòng phiền não của đời sống.

Đời Sống Hằng Ngày Của Đức Phật

Hoạt động hằng ngày của Đức Phật chia làm năm đoạn:

1.- Buổi sáng; 2.- Buổi trưa; 3.- Canh đầu; 4.- Canh giữa; và 5.- Canh chót.

1. Buổi sáng

Thường ngày, lúc còn tảng sáng sớm, Đức Phật dùng thiên nhãn để quan sát thế gian, xem có ai cần Ngài tế độ. Nếu thấy có người cần hổ trợ tinh thần thì không đợi thỉnh cầu, Ngài tự ý đến để dẫn dắt người ấy vào chánh đạo. Ngài đi bộ. Nhưng một đôi khi Ngài cũng dùng phép thần thông bay trên không trung. Thế thường, Ngài đến những người hư hèn, ô nhiễm, như tên cướp sát nhơn hung tợn Angulimala và quỉ Dạ Xoa, bạo tàn ác độc. Nhưng cô bé Visakha có tâm đạo nhiệt thành và nhà triệu phú Cấp-Cô-Độc (Anathapindika) và những bực thiện trí như Xá-Lợi Phất (Sariputta) và Mục-Kiền-Liên (Moggallana) thì tìm đến thọ giáo để được Ngài dẫn dắt.

Trong khi tế độ thế gian, nếu không có ai thỉnh về trai tăng, Đức Phật -- người mà các bực vua chúa đều tôn sùng kính nể và khấu đầu đảnh lễ mỗi khi đến trước mặt đi trì bình khất thực trên các nẽo đường, khi một mình, lúc với chúng Tăng. Im lặng đứng trước cửa từng nhà. Không thốt ra một lời, Ngài thọ lãnh vật thực nào mà tâm trong sạch bố thí của thiện tín hoan hỉ sớt vào bát, rồi trở về chùa. Cho đến năm tám mươi tuổi, mặc dầu đau ốm bất thường, Ngài vẫn đi bát trong thành Vesàli.

Đức Phật thọ thực trước ngọ. Sau đó chư vị tỳ-khưu hợp lại nghe Ngài thuyết một bài Pháp ngắn. Sau thời Pháp, Đức Phật ban lễ qui y Tam Bảo, truyền Ngũ Giới và nếu có vị nào đạt đến trình độ tinh thần đầy đủ, Ngài chỉ dẫn vào Thánh Đạo, Con Đường Giải Thoát. Một vài vị đến gần xin đề mục thiền định thích hợp theo tâm tánh mình. Nếu có lời thỉnh nguyện, đôi khi Ngài cũng ban lễ xuất gia.

2. Buổi trưa

Sau khi giảng dạy hoặc kêu gọi chư vị đệ tử, Đức Phật lui về tịnh thất. Nếu muốn, Ngài nằm nghiêng mình bên mặt và định thần một lát. Lúc dậy, Ngài nhập Đại Bi Định (Maha Karuna Samapatti) và dùng Phật nhãn [1] quan sát thế gian, nhứt là các vị tỳ-khưu đã đi vào rừng sâu hành thiền nơi vắng vẻ và các đệ tử khác ở xa, để hướng dẫn và khuyên dạy. Nếu có một vị ở xa cần hổ trợ, Ngài dùng thần thông bay đến nơi để tế độ rồi trở về tịnh thất.

Vào buổi chiều, thiện tín kéo đến nghe Pháp. Do Phật nhãn Ngài nhìn vào khuynh hướng và tâm tánh của từng người trong cử tọa để thuyết Pháp độ một tiếng. Mỗi người nghe, dầu tâm tánh và tình cảnh hoàn toàn khác biệt, đều có cảm tưởng rằng bài Pháp của Đức Phật đặc biệt hướng về mình. Đó là phương pháp giảng dạy của Đức Phật. Ngài thường dùng những thí dụ, những hình ảnh hay những bài ngụ ngôn có liên quan đến đời sống hằng ngày trong nhà để giải thích giáo lý, và Ngài nhằm vào trí thức hơn là tình cảm.

Đối vời người thuộc hạng trung bình, Đức Phật bắt đầu giảng về hạnh bố thí, giới luật và hạnh phúc ở các cảnh Trời. Đối với người tiến bộ hơn, Ngài đề cập đến mối nguy hại của thú vui vật chất và hạnh phúc của sự từ khước, sự thoát ly. Với các vị đã đạt đến trình độ cao thượng, Ngài giảng về pháp Tứ-Diệu-Đế.

Trong một vài trường hợp hiếm hoi -- như trường hợp Angulimala và bà Khema -- Đức Phật dùng đến oai lực thần thông để ảnh hưởng đến tâm người nghe.

Giáo Pháp Cao Siêu của Đức Phật gợi cảm cho cả đại chúng lẫn hàng trí thức. Một thi sĩ Phật tử có hát lên những lời tán tụng như sau:

"Đem phỉ lạc đến bực thiện trí, tạo kiến thức cho hạng trung bình, và đánh tan bóng tối của người ngu muội, đây quả thật là ngôn ngữ của tất cả mọi người". [2]

Cả hai lớp người, giàu và nghèo, cao sang và thấp kém, đều từ bỏ đức tin cũ của mình để hướng về Thông Điệp Hòa Bình của Đức Phật. Nền đạo pháp (sasana) sơ sanh bắt đầu với năm vị đạo sĩ như hột nhân của tế bào, sớm sanh sôi nảy nở, và mở rộng đến hàng triệu người và êm thắm, ôn hòa, tràn lan khắp miền Trung Ấn.

3. Canh đầu

Từ sáu đến mười giờ đêm là khoảng Đức Phật dành riêng để các vị tỳ-khưu được tự do thỉnh cầu Ngài rọi sáng những mối hoài nghi của mình, hỏi Ngài về những điểm phức tạp trong Giáo Pháp, xin Ngài đề mục thiền định và nghe thuyết Pháp.

4. Canh giữa

Từ mười giờ đến hai giờ khuya, chư Thiên và chư Phạm Thiên là những chúng sanh mà mắt người không thể trông thấy, từ các cảnh Trời, đếu hầu Phật và hỏi Ngài về Giáo Pháp. Trong Kinh Sách có một đoạn thường được nhắc đi lập lại như sau: "Lúc bấy giờ đêm đã khuya, một vị Trời có hào quang rực rỡ đến gần Đức Phật, cung kính đảnh lễ và đứng lại một bên". Nhiều bài kinh và nhiều lời vấn đáp được ghi trong tập Samyutta Nikaya (Tương Ưng Bộ).

5. Canh cuối cùng

Canh cuối cùng trong đêm, từ hai giờ khuya đến sáu giờ sáng, được chia làm bốn phần. Trong phần đầu tiên, từ hai đến ba giờ. Đức Phật đi kinh hành (cankamana). Từ ba đến bốn giờ, Ngài nằm định thần, nghiêng về phía tay mặt. Từ bốn đến năm giờ, Ngài nhập Đại Bi Định (Mahà Karunà Samapatti), rãi tâm từ khắp nơi và làm êm dịu tâm trí tất cả chúng sanh. Sau đó Ngài quan sát thế gian bằng Phật nhãn xem coi có thể tế độ ai. Những người đạo hạnh và những người cần đến Ngài, dầu ở cách xa thế nào Ngài cũng nhận ra và mở lòng bi mẩn, Ngài tự ý đến để đem lại sự hổ trợ tinh thần cần thiết.

Như vậy, trọn cả ngày, Đức Phật luôn luôn bận rộn với nhiệm vụ đạo đức. Ngài chỉ ngủ một giờ đồng hồ. Trong hai giờ tròn, buổi sáng và lúc bình minh, Ngài đượm nhuần toàn thể thế gian với tâm Từ vô lượng và đem hạnh phúc đến cho hàng triệu chúng sanh. Tự nguyện sống đời nghèo nàn, đi trì bình khất thực mà không phiền đến ai, rày đây mai đó, tám tháng trời liền trong năm để hoằng khai Diệu Pháp, Ngài không ngừng gia công đem lại điều tốt đẹp và hạnh phúc cho tất cả, chí đến ngày nhập diệp, vào năm tám mươi tuổi thọ.

Trích: "Đức Phật và Phật Pháp",
Phạm Kim Khánh chuyển dịch, Sài gòn 1970

Chú thích:

[1] Buddhacakkhu, Phật nhãn, gồm tri kiến về những thiếu kém và khuynh hướng cố hữu (ãsayãnusaya nãna) và tri kiến về tánh cách dã dượi hay nhiệt thành của những khả năng như niềm tin, tâm niệm, tâm định, tinh tấn và trí tuệ (indiryaparopariyatta nana)

[2] Satapancasataka, câu 78.

Read more: http://chaytinh.com/duc-phat-va-cau-chuyen-doi-song-hang-ngay-109.html

 

Khi đức Phật là một vị CEO ?

Khi đức Phật là một vị CEO ?

Thứ Bảy, 26/01/2013, 10:45 GMT+7

Đây là chiếc nhẫn cưới của tôi. Nó chỉ đơn giản làm bằng bạc với bốn chữ Sanskrit bên ngoài. Những chữ này là gì? Đó là bốn từ vô giá trong Phật giáo: Từ Bi Hỷ Xả.

Nếu đức Phật là một vị CEO

Tôi đã nghĩ về bốn chữ này rất nhiều và chúng như là một thứ nhắc tôi làm cách nào để tồn tại trong thế giới này. Sẽ tốt hơn nếu tôi tự giác và không bị nhắc nhở. Tuy nhiên, tôi cũng là con người nên cũng có ngày tốt và cũng có ngày không tốt.

Và đây là mấu chốt của vấn đề. Những chữ vô giá này là trọng tâm của thiền định chánh niệm trong bối cảnh đời sống rộng lớn của chúng ta, đưa chúng ta về với sự hiểu biết về các vấn đề và sự kết nối thật sự của chúng ta là gì.

Cuộc sống là phụ thuộc lẫn nhau. Để có được hạnh phúc, một người cần phải cống hiến nuôi dưỡng hết mình cho xã hội và cho tất cả chúng sinh.

Cách tốt nhất để nuôi dưỡng thái độ đúng đắn cho tất cả chúng sinh là thông qua thiền định. Trong rất nhiều chủ để về thiền định mà Đức Phật đã chỉ dạy, tứ vô lượng tâm là rất quan trọng: Từ, Bi Hỷ, Xả. Đây là những thứ vô giá bởi vì chúng hướng tới vô số tất cả chúng sinh không thể đếm được và bởi vì tất cả nghiệp quả tạo nên thông qua thực hành tứ vô lượng tâm là không thể đo lường được. Tứ vô lượng tâm cũng là trạng thái thăng hoa của tâm bởi vì đó là tâm phi thường của các bậc thánh.

Bằng cách nuôi dưỡng tứ vô lượng tâm đối với tất cả chúng sinh, con người có thể dần dần loại trừ tham, sân, si. Bằng cách này, con người có thể đạt được hạnh phúc cho bản thân và người khác, trong hiện tại và tương lai. Lợi ích của tương lai có thể đến từ việc sản sinh của những nhân tốt.

Tôi đã bỏ ra rất nhiều thời gian để khám phá xem điều gì sẽ xảy ra nếu bạn học những  nguyên tắc này khong phải là cho tất cả cuộc sống mà là một kim chỉ nam trong kinh doanh.

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn xây dựng một nền văn hóa kinh doanh hoàn toàn dựa trên tứ vô lượng tâm?

1. Từ

Trong bối cảnh của cuộc sống, điều này thường được hiểu là mong ước người khác được vui vẻ và hạnh phúc. Điều này thường bắt đầu bằng sự tập trung vào những người có mối quan hệ với chúng ta và sau đó mở rộng sự thiền định vì hạnh phúc và niềm vui đến cho người khác. Nghe có vẻ dễ thương nhỉ, nhưng có thật không?

Điều này có quan trọng trong kinh doanh không?

Vâng, rất quan trọng. Điều này có làm cho việc xây dựng và thay đổi cơ cấu kinh doanh hiệu quả không? Vậy làm cách nào bạn mang điều này vào việc kinh doanh?

Có thể bạn là một người vô cùng nhân từ hay là một người có lối sống nghệ sĩ hay là một chuyên gia tư vấn truyền thông xã hội. Trong mỗi bối cảnh, sự giáo dục kinh doanh truyền thống là phải đối đầu với đối thủ cạnh tranh của mình. Bạn làm tất cả mọi việc cũng nhằm mang lại những lợi ích nhiều nhất cho mình. Thắng trong kinh doanh là để áp đảo thống trị. Và thành công là để thắng càng nhiều càng tốt.

Với cách tiếp cận như vậy sẽ cho bạn cảm nhận sức mạnh, vật chất và giàu có nhưng cuối cùng là gì?

Và liệu điều đó có xây dựng một nền văn hóa tốt để lèo lái cả thế giới tập hợp xung quanh bạn thành công không?

Vậy điều gì xảy ra nếu bạn làm khác đi, dẫn đầu không phải để thống trị và lấy đi mà để cùng đứng lên nâng tầm với thật nhiều đối tác càng tốt, ngay cả với người bạn chưa hề biết?

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn cố gắng làm việc để mang lại hạnh phúc nhiều nhất cho những người tiếp xúc với bạn. Bằng cách không lấy đi mà là giúp đỡ và cho đi?

Điều gì sẽ xảy ra nếu đại lượng đo lường cốt lõi của bạn không phải là để đạt được mà là nâng cao?

Cần bao nhiêu nữa để bạn có thể nghĩ rằng người khác sẽ bắt đầu tập trung lại ủng hộ bạn, công việc kinh doanh của bạn, những đòi hỏi của bạn theo phương cánh mà sẽ không bao giờ xảy ra khi tất cả chỉ dựa trên đại lượng lấy đi mà thôi? Vậy ảnh hưởng kế tiếp của vấn đề tìm kiếm thu vào sẽ là gì?

Và ngay cả khi không có một sự đo lường trực tiếp, cần bao nhiêu niềm vui để bạn có thể bỏ ra cả ngày tìm ra cách nào đó thật vui vẻ, thú vị nhằm mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhiều người hơn?

2. Bi

Đức Dalai Latma một lần được hỏi điều gì làm Ngài sợ nhất. Câu trả lời của Ngài đó là Ngài sợ mất khả năng nuôi dưỡng lòng từ bi đối với Trung Hoa. Nếu  bạn biết lịch sử giữa hai quốc gia này, bạn sẽ xúc động bùng tâm như thế nào.

Tuy nhiên, đó là cội rễ khả năng bạn có thể hiểu và phục vụ những đòi hỏi của người khác, đặc biệt là cảm nhận với những gì khác với bạn. Làm được như thế không chỉ giúp họ không đối kháng với bạn mà làm cho cấu trúc và sự tương tác giữa đôi bên theo chiều hướng mà họ cùng cảm thấy mình đều chiến thắng.

Trước khi bắt đầu một cuộc trò chuyện, buôn bán, đàm phán, thỏa thuận, lùi bước hay tiến tới, bạn có thể cố gắng đặt mình vào vị trí của đối tác. Tạo ra một bản chi tiết cá nhân về họ, về cuộc sống của họ, sự tranh đấu, lịch sử, mong ước, đau khổ cũng như các áp lực cá nhân trong tập đoàn.

Sau đó, bạn nhắm mắt và liên tưởng bạn là họ. Không để cá nhân bạn chi phối. Bạn cảm nhận sự sợ hãi, mong ước, nguyện vọng này của họ như thế nào? Liệu bạn có khả năng nghe, thấy, và cảm nhân họ không? Nếu được thì bạn cảm thấy như thế nào? Liệ những cảm giác này tạo ra nhiên liệu gì cho bạn?

Bạn càng có khả năng cảm nhận những điều này, hiểu và nuôi dưỡng lòng từ bi với những nhận định về thế giới kinh doanh như đối tác của bạn thì bạn sẽ cảm thấy cuộc đối thoại thật sự làm cách nào tạo ra một điều gì đó chung không phải chỉ cho những gì bạn cần mà tạo ra một giá trị mới để cùng vực dậy cả hai.

3. Hỷ

Hỷ là cảm giác mà bạn thấy những điều tốt xảy ra với người khác mà bạn mong muốn thành công, bạn cũng cảm thấy sự thành công đó như là của bạn. Không có sự ghen tỵ, không có cảm giác bị thua thiệt, mất mát. Bạn cảm thấy như họ đạt được điều thắng lợi đó là cho bạn.

Trong kinh doanh, nhiệm vụ để nuôi dưỡng hai lượng tâm đầu tiên để có khả năng cảm nhận niềm hỷ lạc  cho những ai thành công xung quanh bạn. Bởi vì khi chấp nhận cảm giác ấy có sự kết nối lẫn nhau, bạn sẽ đến được đỉnh điểm là hiểu rằng thành công của họ cũng chính là của bạn.

Bạn thay thế sự ghen tỵ bằng niềm hỷ lạc.

Đây l à một điều rất khó để tưởng tượng, đặc biệt khi bạn thấy thế giới xunh quanh bạn toàn đối kháng lẫn nahau. Đó là điều mà tại sao bạn phải đưa ra sự lựa chọn rằng liệu họ có thật sự đối kháng với bạn không hay họ chỉ là một phần khác của bạn?

Liệu có tốt hơn cho bạn khi căng óc tìm cách đánh bại họ hay để cho khả năng về sự phát triển, thành công và nâng cao của bạn là tốt hơn nếu bạn cũng bỏ ra một năng lượng tương tự tìm kiếm xem cách nào cùng hợp tác tốt nhất?

4. Xả

Trong bối cảnh của tứ vô lượng tâm trong kinh doanh, điều này thật sự là nhìn vào mọi người ngang bằng, không dính đến địa vị hay giá trị riêng. Xả cũng có nghĩa là tất cả mọi người đều có thể là thầy của bạn. Điều này có thể khó khăn, đặc biệt là cho những ai tự cho mình là chuyên gia thông qua việc lãnh đạo hay thành công liên tục.

Điều gì sẽ xảy ra nếu một người gác cổng dạy một nhà đoạt giải Nobel về vật lý? Điều gì sẽ xảy ra nếu một người nấu ăn tầm thường dạy cho một CEO toàn cầu? Điều gì sẽ xảy ra nếu một đứa trẻ chơi trên sân dạy cho một vận động viên đứng đầu thế giới? Giá trị gì mà để những người này là như nhau?

Câu trả lời là, mọi thứ, nếu bạn chịu mở tâm mà hiểu rằng mọi người không chỉ ngang bằng với bạn mà còn là thầy của bạn.

Tự nâng cao cảm giác của địa vị và kết nối với mọi người là một khái niệm độc ác mà mọi người tự nhận (kể cả tôi). Và điều này không phải là về sự đòi hỏi cần thiết hay cảm giác được cao hơn mà phải thấy một thực tế là bộ não của chúng ta cơ bả được tập hợp các kinh nghiệm tự cao về địa vị và “mối quan hệ đúng” ao ước vô cùng sâu đậm. Chúng kích thích dopamine làm chúng ta cảm thấy tốt hơn và muốn nhiều hơn.

Thử thách, tôi tin rằng, là hiểu và làm việc với lịch sử  và sinh học của chính mình để nuôi dưỡng cảm giác cá nhân vượt qua ba trạng thái trên và cho phép cảm giác về sinh hóa/tâm linh nâng cao không phải chỉ thông qua trạng thái địa vị và kết nối với mình mà cũng bằng cách nâng cao địa vị và kết nối với cả cho người khác. Hãy thực hành trước với những người bạn quen biết rồi mởi rộng ra cho những người bạn chưa hề gặp bao giờ.

Vậy, bạn nghĩ gì?

Điều này có buồn cười hoan tưởng hay là một con đường hiện hữu có thể áp dụng cho việc kinh doanh cho thế hệ tương lai?

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn cố gắng thực hành chỉ một điều trong tứ vô lượng tâm này, thử một tháng thôi?

Tác giả:

“Jonathan Fields là một luật sư chuyển sang kinh doanh, một doanh nhân, một chiến lược gia, một diễn giả và là một tác giả. Ông viết về sự sáng tạo, đổi mới, nắm lấy sự bất ổn, lãnh đạo,kinh doanh, chánh niệm và lối sống tại website JonathanFields.com.

Quyển sách gần đây nhất của ông: Bất định: Chuyển sự sợ hãi và nghi ngờ thành năng lượng thông minh và phát hành vào tháng 9/2011.”

Read more: http://chaytinh.com/khi-duc-phat-la-mot-vi-ceo-106.html

 

Đức Phật Thích Ca, những câu hỏi thú vị về người

Đức Phật Thích Ca, những câu hỏi thú vị về người

Thứ Bảy, 26/01/2013, 10:47 GMT+7

Trong suốt một đời, Đức Phật không lúc nào xao lãng mục đích tối thượng là hóa độ chúng sinh đang trầm luân trong biển khổ.


Đức Phật Thích Ca

Đức Phật đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni Đức Phật đản sinh tại vườn Lâm Tỳ Ni

Từ khi đức Phật đản sinh đến thành đạo

Thân thế của Đức Phật như thế nào?

Đức Phật Thích Ca Mâu xuất thân là một Thái tử, tên Tất-Đạt-Đa, dòng họ Cồ Đàm, Vương tộc Thích Ca, thuộc đẳng cấp Sát-đế-lợi, con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma-Da

Đức Phật đản sinh vào ngày nào?

Ngài sinh vào ngày rằm tháng tư năm 624 trước tây lịch (theo Nam tông); mùng tám tháng tư (theo Bắc tông) tại vườn Lâm-tỳ-ni, nước Ca-tỳ-la-vệ.

Hoàn cảnh của đức Phật trước khi xuất gia?

Bảy ngày sau khi Thái tử đản sanh, hoàng hậu Ma-Da từ trần. Khi lớn lên, Ngài đã có tư tưởng muốn thoát ly, tầm đạo nhưng theo lệnh vua cha, Ngài cưới công chúa Da-Du-Đà-La là con vua Thiện Giác ở nước Kosala. Thái tử và công chúa Da-Du-Đà-La có một người con trai là La-Hầu-La.

Nguyên nhân khiến đức Phật xuất gia tầm đạo?

Thái tử thấy bốn cảnh: Già, bệnh, chết và vị Tu Sĩ ở bốn cửa thành sau những lần đi dạo:

- Cửa thành phía Đông: Gặp một người già

- Cửa thành phía Nam: Gặp một người bệnh

- Cửa thành phía Tây: Gặp một người chết

- Cửa thành phía Bắc: Gặp một vị Tu sĩ, Ngài quyết định rời bỏ ngôi báu, cung điện, vợ con…, để lên đường tầm đạo.

Đức Phật yêu cầu Vua cha Tịnh Phạn bốn điều gì?

- Làm sao cho con trẻ mãi không già.

- Làm sao cho con mạnh mãi không đau

- Làm sao cho con sống hoài không chết

- Làm sao cho mọi người hết khổ

Sự xuất gia của đức Phật diễn ra như thế nào?

- Vào lúc nửa đêm, Thái tử vào phòng từ giã vợ đẹp con ngoan.

- Ngài cùng Xa Nặc hướng về phía Đông vượt thành xuất gia.

- Vượt dòng sông A-Nô-Ma, Ngài tự cạo bỏ râu tóc và khoác áo Sa môn.

- Ngài xuất gia vào ngày mùng 8 tháng 2 âm lịch.

Từ khi đức Phật thành đạo đến Niết Bàn

Quá trình năm năm tầm đạo của đức Phật?

- Tại Tỳ Xá Ly, Thái tử tham học với Đạo sư A-La-La. Ngài đã chứng thiền Vô Sở Hữu Xứ.

- Tại Vương Xá Thành, Thái tử tham học với Đạo sư Uất-Đầu-Lam-Phất. Ngài đã chứng quả vị Phi Tưởng phi Phi Tưởng Xứ.

Còn sáu năm tu khổ hạnh?

Có hai phương pháp khổ hạnh:

- Phương pháp hướng nội: Nghiến răng, chặn lưỡi trên nóc họng, kiềm hãm ý niệm bất thiện bằng ý niệm thiện.

- Phương pháp hướng ngoại: Chỉ đứng và ngồi chứ không nằm. Khi cần nằm thì nằm trên gai nhọn.

Mùa đông: Mặc toàn giẻ rách, vải lượm tử thi, rơm cỏ, da súc vật khô,…

Mùa hè: Ban ngày sống dưới ánh nắng mặt trời, ban đêm sống trong rừng rậm…

Đức Phật tu khổ hạnh

Đức Phật tu khổ hạnh

 Phương pháp sống lúc này của đức Phật?

Nhận thấy hành khổ hạnh không kết quả, Ngài đã thọ dụng bát cháo sữa của cô bé Sujata, trở lại con đường trung đạo để tu hành.

Đức Phật có phương pháp Thiền định như nào?

Thái tử đã ngồi nhập định suốt 49 ngày đêm dưới cội Bồ-đề. Phương pháp hành thiền đưa đến giác ngộ gồm bốn giai đoạn nhập định là: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Trong đêm thứ 49 Ngài chứng được Tam minh (tức là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh). Lúc đó nhằm ngày mùng 8 tháng 12 âm lịch, khi ấy Ngài 30 tuổi.

Người đệ tử đầu tiên của Đức Phật là ai?

Sau khi thành đạo người đầu tiên Đức Phật nghĩ đến để dạy đạo là hai vị thầy trước đây: A - La - La và Uất - Đầu - Lam - Phất. Nhưng họ đã chết.

Tiếp theo Ngài nghĩ đến năm người bạn đồng tu tại vườn Nai (Lộc Uyển). Mấy người bạn ấy là các ông: Kiều Trần Như, Ác Bệ Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạc Đề. Năm vị này là đệ tử đầu tiên của Đức Phật.

Người đệ tử cuối cùng của đức Phật là ai?

Ông Phạm chí tên Tu Bạt Đà La đã 120 tuổi là người đệ tử cuối cùng của Đức Phật.

Có mấy hạng đệ tử của đức Phật?

Có bốn hạng đệ tử. Đó là:

- Tỳ Kheo

- Tỳ Kheo Ni

- Ưu Bà Tắc

- Ưu Bà Di

Đức Phật niết bàn

 Đức Phật nhập Niết Bàn

Người cúng dường sau cùng cho đức Phật là ai?

Ông Thuần Đà là người sau cùng dâng cúng dường Đức Phật một bát cháo nấm.

Bài Pháp đầu tiên mà đức Phật thuyết giảng là bài nào?

Bài Pháp đầu tiên của Đức Phật là Tứ Diệu Đế, thuyết cho năm người bạn đồng tu tại vườn Nai (Lộc Uyển). Tứ Diệu Đế: nhận định đời là khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường diệt khổ.

Bài pháp cuối cùng?

Bài thuyết Pháp cuối cùng của Đức Phật là bài Kinh Di Giáo.

Năm thời Kinh đức Phật thuyết giảng là gì?

- Kinh Hoa Nghiêm

- Kinh A Hàm

- Kinh Phương Đẳng

- Kinh Bát Nhã

- Kinh Pháp Hoa

Sự hóa độ của đức Phật bao gồm những gì?

- Hóa độ theo thứ lớp căn cơ

- Hóa độ tùy phương tiện

- Hóa độ theo tinh thần bình đẳng

Hình thành Tam Bảo được hình thành khi nào?

Tam Bảo được hình thành từ khi Đức Phật thuyết pháp và thâu nhận năm vị đệ tử đầu tiên tại Vườn Nai. Lúc bấy giờ có Phật, Pháp và Tăng.

Đức Phật nhập Niết Bàn khi nào?

Khi phước duyên hoàn mãn, Đức Phật đã 80 tuổi. Ngài quyết định nhập Niết Bàn tại rừng Sa-la ở xứ Câu –ly, cách thành Ba-la-nại chừng 120 dặm. Lúc ấy ngày rằm tháng hai âm lịch năm 544.

Niên lịch của Phật Thích Ca
 
(Theo kinh điển Đại Thừa)
 
- Phật đản sinh ngày 8 tháng 4 (Trước Chúa giáng sinh 624 năm. Nếu tính theo năm Phật nhập diệp thì trước Chúa giánh sinh 544 năm)
 
- 19 tuổi xuất gia, nhằm ngày 8 tháng 2
 
- 5 năm tầm học các đạo
 
- 6 năm tu khổ hạnh
 
- 49 ngày nhập định
 
- 30 tuổi thành đạo, nhằm ngày mùng 8 tháng Chạp
 
- 49 năm thuyết pháp độ đời
 
- 80 tuổi nhập Niết Bàn, nhằm ngày Rằm tháng 2
 
(Theo tài liệu ghi trong cuốn Phật học Phổ thông - Quyển một của Hòa thượng Thích Thiện Hoa)

 

Read more: http://chaytinh.com/duc-phat-thich-ca-nhung-cau-hoi-thu-vi-ve-nguoi-105.html

 

Lịch sử đức Phật Thích Ca

Lịch sử đức Phật Thích Ca

Thứ Hai, 07/01/2013, 09:42 GMT+7

1.Thái tử Tất Đạt Đa ra đời:

Vào ngày rằm tháng 4, năm 623 trước công nguyên tại vườn Lumbini (lâm Tỳ Ni) gần thành Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ), một nơi hiện nay là vùng biên giới giữa Neepan và Ấn Độ, Đức Phật Thích Ca đã giáng sinh, làm Hoàng Tử con vua Suddhodana ( Tịnh Phạn) và Hoàng Hậu Maha Maya (Ma Da). Vua Suddhodana trị vì một vương quốc nhỏ của bộ tộc Sakya (Thích Ca).   

Vì Hoàng hậu Maha Maya qua đời bảy ngày sau khi Thái tử sinh ra, cho nên Thái tử được bà dì Maha Pajapati Gotami (Maha Ba xà ba đề), trực tiếp nuôi nấng, dạy dỗ, còn người con trai của Bà dì là Nanda thì được giao cho các bảo mẫu nuôi dưỡng.

Tên riêng của vị Phật tương lai là Si Đác Ta (Tất Đạt Đa), tên giòng họ Ngài là Gotama (Cồ Đàm). Vì giòng họ nầy thuộc bộ lạc Sakya (Thích Ca), cho nên sau nầy có danh hiệu Sakya Muni (Thích Ca Mâu Ni). Muni là bậc Thánh, Sakya Muni là bậc thánh thuộc bộ lạc Thích Ca.  

 

Lịch sử đức phật thích ca

2. Đạo sĩ A Tư Đà và Thái tử  

Ngày Thái Tử Si Đác Ta đản sanh là ngày hội vui lớn của toàn vương quốc. Dân chúng xa gần kéo về kinh đô Kapilavastu ăn mừng. Một vị Đạo sư già tên là Asita (A Tư Đà) cũng từ nơi ông tu hành trên núi Himalaya (Hy mã lạp sơn) đến cung vua để chào mừng và xem tướng Thái tử. Gặp Thái tử, đạo sĩ Asita bỗng nhiên chắp tay vái chào với thái độ hết sức cung kính. Đạo sĩ tuy cuời mà vẻ mặt thoáng buồn. Được hỏi vì cớ sao, Đạo sĩ Asita trả lời là ông mừng vì Thái tử tương lai sẽ thành Phật, bậc giác ngộ và thượng, nhưng ông buồn vì ông tuổi đã quá cao, ắt phải qua đời mà không được vị Phật tương lai trực tiếp giáo huấn, giác ngộ.  


Trong kinh Sutta-Nipata (Kinh Tập, 101), có kể truyện đạo sĩ Asita đang tu trên núi Tuyết sơn, được chư Thiên mách bảo, bèn xuống núi, đến thành Kapilavastu xem tướng cho Thái tử.  

"Thấy Thái tử chói sáng

Rực rỡ như vàng chói,

Trong lò đúc nấu vàng,

Được thợ khéo luyện thành

Bừng sáng và rực rỡ,

Với dung sắc tuyệt mỹ...

Sau khi thấy Thái tử,

Chói sáng như lửa ngọn,

Thanh tịnh như sao Ngưu,

Vận hành giữa hư không,

Chói sáng như mặt trời,

Giữa trời thu mây tạnh.

Ấn sĩ tâm hân hoan

Được hỷ lạc rộng lớn".

  Và đạo sĩ Asita nói là Thái tử tương lai sẽ tu chứng Phật quả, vì lòng từ thương xót chúng sanh mà truyền bá chánh pháp trên thế gian nầy.  

"Thái tử này sẽ chứng,

Tối thượng quả Bồ đề

Sẽ chuyển bánh xe Pháp,

Thấy thanh tịnh tối thẳng

Vì lòng từ thương xót,

Vì hạnh phúc nhiều người,

Và đời sống phạm hạnh,

Được truyền bá rộng rãi".

Nhưng vì nghĩ mình đã già, không còn sống được bao lâu nữa, để có thể trực tiếp nghe Đức Phật thuyết pháp, cho nên đạo sĩ buồn và nói:  

"Thọ mạng ta ở đời,

Còn lại không bao nhiêu,

Đến giữa đời sống Ngài

Ta sẽ bị mệnh chung.

Ta sẽ không nghe Pháp,

Bậc tinh cần vô tỷ,

Do vậy ta sầu não,

Bất hạnh và khổ đau..." (Kinh Tập, 103)

3. Cuộc sống của Thái tử trong thời niên thiếu  

Thái Tử Si Đác Ta được nuôi nấng, dạy dỗ, giáo dục một cách toàn diện về hai mặt: văn chương và võ nghệ.
Khi Thái tử lên bảy tuổi, những thầy giáo giỏi nhất trong xứ được mời đến hoàng cung dạy cho Thái tử các môn học thế gian như Thanh minh (ngôn ngữ học và văn học), Công xảo minh (Công kỹ nghệ học), Y phương minh (môn học chữa bịnh), Nhân minh (Luận lý học), và Nội minh (Đạo học). Về Đạo học, Thái tử được dạy về 4 sách Thánh Veda, là các sách Thánh của Bà la môn giáo. Sách kể rằng: chỉ trong khoảng thời gian từ 7 đến 12 tuổi, Thái tử đã học thông thạo 5 môn học trên và 4 sách Thánh Veda. Đến năm 13 tuổi, Thái tử học võ thuật, theo truyền thống giòng giõi đẳng cấp võ tướng (Ksatryas, Sát đế lỵ). Nhờ có sức khỏe phi thường, Thái tử học môn võ gì cũng giỏi; về môn bắn cung, sách kể rằng, trong một cuộc hội thi, Thái tử đã bắn một mũi tên xuyên 7 lớp trống đồng, trong khi người giỏi nhất tại cuộc thi chỉ bắn xuyên được ba lớp trống đồng.  
Vào tuổi 16, Thái tử cưới công chúa Yasodhara (Da du đà la), đồng lứa tuổi với Thái tử. Và trong gần 13 năm, sau ngày cưới, Thái tử sống một cuộc đời hạnh phúc trong nhung lụa, vô tư, không biết gì tới mọi nỗi khổ và bất hạnh ở đời. Về quãng đời ấy của Ngài, Đức Phật kể lại như sau với các Tỷ kheo, đệ tử của Ngài:  
"Này các Tỷ kheo, Ta được nuôi dưỡng tế nhị, quá mức tế nhị. Trong cung của Phụ vương Ta, các hồ nước được xây lên, trong một hồ có hoa sen đỏ, trong một hồ có hoa sen trắng, tất cả đều phục vụ cho Ta. Không một hương chiên đàn nào Ta dùng, này các Tỳ kheo, là không từ Kasi đến. Bằng vải Kasi là khăn của Ta, này các Tỳ kheo, bằng vải Kasi là áo cánh, bằng vải Kasi là áo lót, bằng vải Kasi là áo khoác ngoài. Đêm và ngày, một lọng trắng được che trên đầu Ta để tránh xúc chạm lạnh, nóng, bụi, cỏ hay sương. Này các Tỳ kheo, ba lâu đài được xây dựng cho Ta, một cái cho mùa đông, một cái cho mùa hạ, một cái cho mùa mưa. Và Ta, này các Tỳ kheo, tại lâu đài mùa mưa, Ta được các vũ nhạc công đờn, múa hát xung quanh Ta..." (Tăng Chi 1, 161 - 162).  

4. Quyết tâm xuất gia tầm đạo  

Thế nhưng, với thời gian, do năng khiếu suy tư sâu sắc và lòng thương người bẩm sanh, Thái tử không thể nào cam tâm một mình sống mãi trong nhung lụa, giữa một xã hội bất công, một thế giới đau khổ. Thái tử sớm giác ngộ về tính tạm thời, tầm thường của hạnh phúc vật chất thế gian và có ý chí xuất gia cầu đạo giải thoát, tìm ra con đường cứu vớt chúng sanh ra khỏi già, đau, chết và mọi nỗi bất hạnh khác của đời người.  
Một ngày nọ, Thái tử đi ra ngoài thành dạo chơi và lần đầu tiên trong đời được tiếp xúc với những sự thật đen tối và đáng sợ: Thái tử lần lượt gặp một người già yếu, một người bệnh tật, một xác chết và cuối cùng là một vị tu sĩ với dung sắc giải thoát, khoan thai đi trên đường. Thái tử nghiệm thấy mình dù là Thái tử con vua, cũng không thể thoát khỏi cảnh già, đau, và chết; những hình ảnh siêu thoát của vị Tu sĩ đã giúp Thái tử sớm thấy được con đường dẫn đến giác ngộ, vĩnh viễn khắc phục mọi nỗi khổ đau và bất hạnh của đời người, con đường dẫn tới cõi Niết bàn bất tử.  

Từ đó, Thái tử nuôi dưỡng quyết tâm từ bỏ gia đình, xuất gia cầu đạo. Nhưng, một tin đến, khiến Thái tử không vui: công chúa Yasodhara mới hạ sinh một con trai. Thái tử nói: "Một trở ngại (ràhu) đã được sanh, một ràng buộc đã xãy ra". Nhân đó, ông nội, vua cha Suddhodana đặt tên cháu là Ràhula (La hầu la).  

5. Sự từ bỏ vĩ đại  

Lâu đài, cung điện không còn là nơi ở thích hợp nữa cho Thái tử, lòng nặng chĩu tình thương chúng sanh chìm đắm trong bể khổ và Thái tử càng thêm quyết tâm xuất gia cầu đạo, tìm con đường cứu khổ cho muôn loài. Thế rồi vào một đêm Thái tử ra lệnh cho người nô bộc trong thành là Channa (Xa nặc) thắt con ngựa Kantaka (Kiền trắc). Trước khi xuất phát, Thái tử đi dọc theo hành lang nội cung, đến trước phòng công chúa Yasodhara (Da du đà la) và người con trai đang ngủ thiếp. Thái tử hé cửa nhìn vào, Thái tử rất yêu thương người vợ và con trai của mình, nhưng đối với nhân loại đau khổ bất hạnh, lòng thương xót của Thái tử lại còn da diết hơn. Sau đó, Thái tử một mình lên ngựa ra đi, vượt khỏi hoàng thành, theo sau, chỉ có người nô bộc trung thành Channa.  
Ra đi, Thái tử từ bỏ tất cả, phụ vương, ngai vàng, vợ và con, cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc của một hoàng tử. Không phải là sự hy sinh từ bỏ của một người già, đau ốm, một người nghèo, bệnh tật, ngán ngẫm cuộc đời, mà là sự hy sinh từ bỏ của một vị hoàng tử đang tuổi thanh xuân, đang sống trong quyền quý giàu sang. Quả thật đó là một sự từ bỏ, hy sinh vĩ đại, có một không hai trong lịch sử loài người.  
Năm ấy, Thái tử tròn 29 tuổi. Khi tới bờ sông Anomà, Thái tử dừng lại, bỏ ngựa, cạo râu, tóc, trao y phục và đồ trang sức cho Channa, lệnh cho Channa trở về. Còn Thái tử một mình ra đi, với bộ áo màu vàng đơn giản của người tu sĩ, từ nay cuộc sống không nhà của người xuất gia cầu đạo. Ngài không nơi ở cố định. Khi thì ngồi dưới bóng cây, khi thì nằm nghỉ qua đêm trong một hang đá. Chân không và đầu để trần, Ngài đi bình thản giữa nắng nóng cũng như trong sương đêm lạnh, tất cả mọi năng lực và ý chí của Ngài đều hướng tới lý tưởng cao cả tìm ra sự thật tối hậu, lý lẽ của sống và chết, ý nghĩa của nhân sinh, của cuộc đời, con đường dẫn tới giải thoát, cõi Niết bàn bất tử.  

6. Đến học hai đạo sĩ Alara Kalama và Uddaka Ramaputta  

Thời bấy giờ, tình hình chính trị tại các xứ ở Ấn Độ khá ổn định, nhiều nhà tri thức lỗi lạc, xuất gia tu đạo, trở thành đạo sư tâm linh với nhiều đệ tử theo học. Thái tử Si Đác Ta, trên đường đi tầm đạo, đã tới thụ giáo với hai đạo sư danh tiếng nhất thời bấy giờ là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta. Cả hai người đều tu theo phép Du già và đều chứng được những cấp thiền định cao nhất thời bấy giờ. Alara Kalama chứng được cấp thiền Vô sở hữu xứ, còn Uddaka Ramaputta thì chứng được cấp thiền Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đó là hai cấp thiền thuộc Vô sắc giới, hai cấp thiền cao nhất mà tu sĩ Du già thời bấy giờ chứng đạt được.  
Nhưng chỉ một thời gian ngắn tu học, Thái tử cũng dễ dàng đạt được hai cấp thiền nói trên, và được hai đạo sư mời ở lại, cùng với họ lãnh đạo chúng đệ tử. Thái tử biết rõ, các cấp thiền mà Ngài chứng được chưa phải là chân lý tối hậu, Niết bàn, sự chấm dứt sanh tử và mọi khổ đau. Cho nên, Ngài từ chối lịch sự, rồi lại lên đường tiếp tục cuộc hành trình cầu đạo của mình. Qua thực nghiệm, Ngài thấy chân lý tối hậu, Niết Bàn, chấm dứt mọi đau khổ của sinh tử luân hồi, không thể cầu được ở bên ngoài, ở bất kỳ một bậc Đạo sư nào. Chân lý tối hậu đó phải chính do Ngài tự tìm lấy, tự chứng ngộ lấy ở bên trong nội tâm của Ngài, không thể dựa vào một tha lực nào khác.  

7. Tu khổ hạnh sáu năm  

Thái tử đến một nơi gọi là Uruvela, thị trấn của Senàni. Ngài tìm được một khoảnh đất đẹp và mát, có con sông nhỏ chạy qua giữa bờ cát trắng. Gần đây, lại có làng nhỏ, có thể đi khất thực hàng ngày. Đúng là một nơi yên tĩnh, đẹp đẽ, rất thích hợp với trầm tư mặc tưởng và tu tập thiền định. Cùng đến nơi đây tu tập với Thái tử còn có các tu sĩ Kondana (Kiều Trần Như), Bhadhya, Vappa, Mahanama và Asaji. Kondanna vốn là vị đạo sĩ trẻ tuổi nhất, trong số các đạo sĩ được vua Suddhodana mời tới kinh đô để xem tướng Thái tử, lúc Ngài mới đản sanh.
Thời bấy giờ, ở Ấn Độ có tập tục và niềm tin rằng, người nào cầu đạo giải thoát, đều phải kiên trì tu khổ hạnh, ép xác. Cũng theo truyền thống đó, Thái tử cùng với 5 người bạn đồng tu trong 6 năm ròng rã, kiên trì khổ hạnh ép xác tới mức con người Thái tử gầy khô như bộ xương, đôi mắt sâu hoẵm xuống, sức khỏe giảm sút đến nỗi Ngài không còn đi vững được nữa. Ngài nghiệm thấy, càng kiên trì khổ hạnh, chân lý tối hậu như càng lùi ra xa, tâm trí càng mê mờ, thân thể càng suy yếu. Ngài thấy rõ, khổ hạnh, ép xác không phải là con đường thoát khổ và cứu khổ.  
Thái tử quyết định ăn uống bình thường trở lại. Năm người bạn đồng tu, vốn đặt niềm tin và hy vọng tuyệt đối vào Thái tử, tưởng rằng Thái tử đã thoái chí, bèn rời bỏ Thái tử, đến vườn Nai ở Isipatana gần thành phố Banares để tiếp tục tu hành. Họ nói rằng, Thái tử Si Đác Ta đã trở về với cuộc sống tiện nghi và dục lạc vật chất..  

8. Chứng Bốn Chân Lý Tối Hậu  

Ở lại một mình, Thái tử quyết tâm tự mình phấn đấu để chứng ngộ chân lý tối hậu. Ngài lấy lại sức, nhờ uống bát sữa, do một thôn nữ tên là Sujata cúng dường, sau đó, Ngài tắm ở sông Neranjara (Ni Liên Thuyền). Tối đến, Ngài đến ngồi dưới gốc cây Pippala, sau này được đổi tên là cây Bồ đề, để đánh dấu sự kiện thành đạo vĩ đại của Ngài.  
Với tâm định tỉnh, nhu nhuyến, trong sáng như gương, Ngài suy tư về lẽ sống chết, về những nguyên nhân tích tập dẫn tới luân hồi sanh tử và con đường giải thoát, dẫn tới Niết bàn, Ngài nhớ lại, thấy rõ các kiếp sống trước đây của mình, một kiếp, hai kiếp cho tới hàng trăm ngàn kiếp. Ngài nhớ lại, thấy rõ các chu kỳ thành hoại của một thế giới, nhiều thế giới. Ngài thấy rõ các chúng sanh, tùy theo nghiệp nặng nhẹ, thiện ác so mình tạo ra, luân hồi như thế nào trong các cõi sống, từ thời vô thủy cho tới ngày nay. Ngài thấy rõ, biết rõ tự bản thân Ngài đã đoạn trừ hết mọi tham ái, lậu hoặc, vô minh, đã được giải thoát và giác ngộ, và thành tựu đạo Vô thượng. Ngài đã thành Phật.  

Sau này, Đức Phật đã kể lại cho các đệ tử Tỳ kheo nghe về cảnh giới chứng ngộ của mình như sau: "Nầy các Tỳ kheo! Ta tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị sanh, tìm cầu cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn, và đã chứng được cái không sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của cái bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn và đã chứng được cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; tự mình bị bệnh, sau khi biết rõ nguy hại của cái bệnh, tìm cầu cái không bệnh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn; tự mình bị chết, sau khi biết rõ nguy hại của cái bị chết, tìm cầu cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Niết bàn và đã chứng được cái không chết, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết bàn... Tri và Kiến khởi lên nơi Ta. Sự giải thoát của Ta không bị giao động. Nay là đời sống cuối cùng của Ta, không còn sự tái sanh nữa". (Kinh Thánh Cầu, Kinh Trung Bộ I, 268).  

Như vậy, sau 6 năm gian khổ, kiên trì, không mệt mỏi, vào năm 35 tuổi. Thái Tử Si Đác Ta đã chứng ngộ chân lý cứu kinh vô thượng và trở thành Đức Phật, bậc Toàn giác mà sự xuất hiện là chuyện hy hữu nhất trên đời này.
Từ nay, thế gian tôn xưng Ngài là Đức Phật Gotama hay là Đức Phật Thích Ca Cồ Đàm. Từ Pali, "Buddha" (Phật Đà) có chữ gốc "Buddh" là hiểu biết, giác ngộ chân lý tối hậu, cứu kinh. Sách Pali gọi Ngài là Sammà Sambuddha, với nghĩa là bậc Toàn giác, không gì không biết, không thấy; bậc Thánh, không những giác ngộ đầy đủ cho bản thân mình, mà còn giác ngộ đầy đủ cho tất cả mọi người khác, cho tất cả mọi chúng sanh.  

9. Đức Phật do dự trước khi chuyển bánh xe Pháp  

Chuyển Pháp Luân là chuyển bánh xe Pháp, tức là truyền bá cho thế gian biết về đạo Pháp mà Phật đã chứng ngộ. Ngồi tĩnh tọa dưới gốc cây Bồ đề, sau khi đã chứng quả giác ngộ vô thượng, Đức Phật có suy nghĩ như sau:  
"Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người có trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng nầy thì ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Đối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý 'duyên khởi ra các pháp' (Paticcasamuppada): sự kiện nầy thật khó thấy, tức là sự tịnh chỉ tất cả các hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, ái diệt, ly tham, đoạn diệt, Niết bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp thì các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta, như vậy thật bực mình cho Ta" (Trung Bộ I, 268 - 269).  

Nhưng rồi Đức Phật nhìn quanh một lượt khắp thế gian với con mắt trí tuệ và suy nghĩ rằng:  

"... Có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sinh ở thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Như trong hồ sen xanh, hồ sen hồng, hay hồ sen trắng, sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, không vươn lên khỏi mặt nước, được nuôi dưỡng dưới nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn lên khỏi mặt nước, không bị nưóc thấm ướt. Cũng vậy, nầy các Tỳ kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh ở thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm. Và nầy các Tỳ kheo, Ta nói lên bài kệ sau đây:  

"Cửa bất tử rộng mở  

Cho những ai chịu nghe  

Hãy từ bỏ tin tâm  

Không chính xác của mình.." (Trung Bộ I, 271)  

Rồi Đức Phật quyết định sẽ gióng lên tiếng trống của Pháp, sẽ chuyển bánh xe Pháp, sẽ tuyên bố với thế gian, với loài người và loài Trời, con đường đạo cứu khổ và diệt khổ, con đường đạo dẫn tới cõi bất tử, cõi Niết Bàn. Thế là bánh xe Pháp bắt đầu chuyển.  

10. Đức Phật giảng Pháp đầu tiên tại Vườn Nai, gần thành Ba La Nại (Benares)  
Như đã nói trên, năm tu sĩ, bạn đồng tu của Thái tử, ở Uruvela, nay vẫn tiếp tục tu khổ hạnh ở vườn Nai gần thành phố Benares. Họ rời bỏ Thái tử, vì họ tưởng rằng Thái tử đã thoái chí, giữa đường bỏ cuộc. Nhưng thực ra, sau 6 năm tu khổ hạnh, Thái Tử đã thực nghiệm và thấy rõ tất cả sự vô ích và vô lý của lối tu khổ hạnh, ép xác chỉ làm con người suy yếu về thân xác, mệt mỏi về tinh thần. Và Thái tử ở lại một mình, kiên trì, phấn đấu và cuối cùng đã giác ngộ, thành Phật dưới gốc cây Bồ đề.  

Sau khi đã quyết định truyền bá đạo lý cứu khổ cho thế gian, vì lòng thương xót loài người và loài trời, Đức Phật nghĩ ngay tới 2 vị thầy cũ của mình là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta, nhưng cả 2 ông này đều đã qua đời cách đây không lâu. Với Phật nhãn, Đức Phật thấy năm người bạn đồng tu xưa kia của mình đang ở tại vườn Nai gần Benarès và quyết định họ sẽ là những người đầu tiên được nghe giáo pháp của Ngài.  

Rồi Đức Phật lên đường đi Benarès. Tại đây, ở vườn Nai gần Benarès, Đức Phật thuyết pháp lần đầu tiên cho 5 người bạn đồng tu ngày trước của mình. Sự kiện đáng ghi nhớ này diễn ra vào một ngày trăng rằm, đúng hai tháng sau Đức Phật thành đạo. Sau nầy, nó được biểu trưng một cái bánh xe, có 2 con nai nâng đỡ hai bên.  

Hai con nai biểu trưng cho địa điểm thuyết pháp, Vườn Nai, cũng gọi là Lộc Uyển. Bánh xe - Dhammacakka - tức là bánh xe Pháp, sách Hán dịch là Pháp luân. Cả đầu đề bài kinh là Dhammacakkappavattana, có nghĩa là "chuyển bánh xe Pháp".  

11. Nội dung Kinh Chuyển Bánh Xe Pháp  


Trong bài kinh này, Đức Phật mở đầu bằng lời khuyên các tu sĩ không nên mắc vào hai cực đoan: một cực đoan là đam mê thú vui nhục dục thế gian, thực ra chỉ là những cái tầm thường, nhất thời, ngăn cản mọi tiến bộ tâm lính. Một cực đoan thứ hai là khổ hạnh, ép xác vì nó làm mệt mỏi tinh thần, mê mờ trí tuệ, do đó cũng có hại, vô ích. Đức Phật khuyến cáo nên rời bỏ hai cực đoan trên, và theo con đường Trung Đạo dẫn tới cuộc sống thanh tịnh, trí tuệ sáng suốt và giải thoát tối hậu. Đó là con đường đạo tám nhánh nổi tiếng, sách Hán thường dịch là Bát Chánh Đạo:  

Chánh tri kiến: Thấy biết chân chánh.  

Chánh tư duy: Suy nghĩ chân chánh, ý chí chân chánh.  

Chánh ngữ: Nói năng chân chánh, tức là không nói dối, không nói ác, không nói chia rẽ, không nói lời vô nghĩa.  

Chánh nghiệp: Hành động chân chánh, tức là không sát sanh, không lấy của không cho, không tà hạnh, không rượu chè.  

Chánh mạng: Sinh sống bằng nghề chân chánh, không phải bằng nghề bất lương, như buôn bán lừa đảo, buôn vũ khí và thuốc độc, buôn bán nô tỳ...  

Chánh tinh tấn: Siêng năng chân chánh, diệt bỏ điều bất thiện, làm mọi điều tốt lành.  

Chánh niệm: Nghĩ nhớ chân chánh, không nghĩ nhờ điều tà vạy, ác xấu, mê lầm.  

Chánh định: Tập trung tư tưởng chân chánh, không để tư tưởng tán loạn, chạy theo dục vọng.  

Con đường tám nhánh là con đường đạo chân chánh, dẫn tới chấm dứt mọi đau khổ, phát khởi trí tuệ, đưa đến Niết bàn, là sự giải thoát vĩnh viễn khỏi vòng sống chết luân hồi, là sự thanh tịnh tuyệt đối và an lạc tuyệt đối.  

Trong bài thuyết pháp đầu tiên này, Đức Phật giảng về bốn chân lý cao cả, cũng gọi là bốn chân lý Thánh, bởi vì chúng được phát hiện và tuyên thuyết bởi bậc thánh vĩ đại nhất là Đức Phật. Đó là chân lý về sự khổ (sách Hán gọi là Khổ đế), chân lý về nguyên nhân của khổ (Tập đế), chân lý về diệt khổ (Diệt đế), chân lý về con đường đạo diệt khổ (Đạo đế).  

Nghe xong bài thuyết pháp này, và một bài thứ hai có đầu đề "Anttalakkhana sutta", bàn về thuyết vô ngã (không có cái Ta), năm vị tu sĩ ở vườn Lộc Uyển được giác ngộ và không bao lâu trở thành A la hán.  

12. Đức Phật giác ngộ cho Yasa và những người bạn  

Gần Benares, có con trai người triệu phú tên là Yasa, tuy sống cuộc đời đầy đủ xa hoa, nhưng lại sớm chán cảnh sốngv thế gian tầm thường vô vị. Yasa tìm đến Đức phật, bộc lộ với Đức Phật tâm trạng chán chường của mình, và được Đức Phật thuyết pháp về hạnh bố thí, về nếp sống đạo đức, về các cõi Trời, về nguy hại của dục lạc thế gian, về hạnh phúc của nếp sống Thánh, hỷ xả, không tham trước. Và sau đó, Đức Phật giảng cho Yasa vế bốn chân lý cao cả: sự khổ, nguyên nhân của khổ, cảnh giới Niết bàn an lạc và con đường đạo tám nhánh dẫn tới Niết bàn.  

Cha của Yasa, trên đường đi tìm con trai, cũng đến Vườn Nai và được nghe Phật thuyết pháp, ông xin Phật cho quy y và trở thành người đệ tử tại gia đầu tiên của Phật. Còn Yasa thì xin Phật cho xuất gia và không bao lâu chứng quả A la hán. Khi Đức Phật đến thăm nhà cha của Yasa theo lời thỉnh cầu của ông này, thì cả người mẹ và người vợ cũ của Yasa cũng xin quy y làm đệ tử tại gia của Đức Phật. Bốn người bạn của Yasa là Vimala, Subaha, Tunnaji và Barampati, noi gương Yasa cũng xin xuất gia, và không bao lâu đều chứng quả A la hán.  

Ngoài ra, hơn năm mươi người bạn khác của Yasa, từ các gia đình và địa phương khác nhau, nghe tin Yasa chứng được Thánh quả, cũng đều tụ tập về đây xin xuất gia theo Đức Phật, và sau một thời gian, tất cả đều chứng quả A la hán.  

13. Đoàn Tăng sĩ thuyết pháp đầu tiên  


Bấy giờ, Đức Phật có sáu mươi đệ tử đều là A la hán. Ngày quyết định phái họ đi khắp nơi để truyền bá chánh pháp. Trước khi họ lên đường, Đức Phật đã động viên họ với lời lẽ như sau:  

"Hỡi các Tỳ kheo, Ta đã được giải thoát khỏi mọi ràng buộc thế gian và xuất gian".  

"Các ngươi cũng vậy, hỡi các Tỳ kheo, cũng đã được giải thoát khỏi mọi ràng buộc thế gian và xuất thế gian".  

"Hãy đi! Hỡi các Tỳ kheo, vì lợi lạc của số đông, vì hạnh phúc của số đông, vì lòng lân mẫn đối với thế gian, vì lợi lạc, vì hạnh phúc của loài Trời và loài người. Các người hãy đi, nhưng đừng đi hai người cùng một hướng. Hãy truyền bá đạo pháp, hỡi các Tỳ kheo. Đạo pháp toàn thiện, ở phần đầu, phần giữa cũng như phần cuối, cả trong ý tứ và lời văn, hãy tuyên bố về cuộc sống Thánh, toàn thiện và thanh tịnh..." (Mahavagga 19).  

Tỳ kheo, dịch âm từ chữ Pali "Bhikkhu", nghĩa là "Người khất thực". Đức Phật, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, với 60 người học trò đã chứng quả A la hán, tổ chức thành một tăng đoàn những tu sĩ khất thực, không có nhà ở cố định, không có của cải vật chất nào khác ngoài tấm áo vàng che thân và bình bát để xin ăn... Thuyết giảng về đạo lý cứu khổ và cuộc sống thánh hạnh, tự mình nêu gương sáng về cuộc sống Thánh hạnh và giải thoát, đó là sự nghiệp, là nội dung công tác chủ yếu của Tăng đoàn đầu tiên, do Đức Phật đích thân thành lập và chỉ đạo.  

14. Giác ngộ cho ba mươi thanh niên  

Sau khi Đức Phật phái các đệ tử mỗi người đi một ngã để truyền bá chánh pháp, Ngài cũng lên đường đến Uruvela. Dọc đường, Ngài ngồi nghỉ ở một gốc cây, trong một khu rừng nhỏ. Lúc bấy giờ, có ba muơi thanh niên nhà giàu, đem vợ theo đến vui chơi giải trí trong chính khu rừng đó. Trong số này, có một thanh niên chưa vợ. đem theo một kỹ nữ. Trong khi họ đang vui đùa, thì người kỹ nữ lẫn trốn với nhiều của cải và đồ trang sức của họ. Các thanh niên lùng bắt người kỷ nữ trong khu rừng, gặp Đức Phật và hỏi Ngài có thấy người phụ nữ trẻ qua đây không?  

Đức Phật hỏi: "Hỡi các thanh niên, tìm người kỹ nữ tốt, hay là tìm thấy bản thân mình tốt hơn?"  

Họ đều trả lời là tìm thấy bản thân mình tốt hơn.  

Đức Phật nói: "Thế thì được! Các bạn trẻ, hãy ngồi lại đây, Ta sẽ thuyết pháp cho".  

Các thanh niên kính lễ Phật với thái độ trân trọng rồi ngồi xuống nghe Phật giảng pháp. Nhờ nghe pháp, họ được giác ngộ và xin phật cho xuất gia làm Tỳ kheo.  

15. Ba anh em ông Kassapa (Ca Diếp) được giác ngộ  

Gần Uruvela, có ba tu sĩ khổ hạnh là ba anh em ông Kassapa: Uruvela Kassapa, Nadi Kassapa, và Gaya Kassapa. Người anh lớn, Uruvela Kassapa có 500 đệ tử, hai người em có 300 và 200 đệ tử. Ba anh em ông Kassapa đều là những đạo sĩ có danh vọng lớn ở xứ Magadha, đặc biệt là người anh cả Uruvela Kassapa, ông này thờ thần lửa, và tự cho mình đã chứng quả A la hán. Đức Phật lại gặp ông đầu tiên và xin được phép ngủ qua đêm tại phòng riêng của ông này, ở đây có thờ một con rắn thiên rất độc. Ông Kassapa tưởng rằng Đức Phật thế nào cũng bị con rắn thiêng cắn chết, nào ngờ chính con rắn bị Đức Phật hàng phục bằng sức thần thông của Ngài. Cả ba anh em với số học trò đông đảo đều xin xuất gia theo Đức Phật.  

Sau đó, cả đoàn người cùng đi với Đức Phật đến một nơi gọi là Gaya Sisa, không cách xa Uruvela mấy. Ở đây, Phật giảng kinh Adittapariyaya Sutta. Nghe xong kinh này, tất cả các Tỳ kheo có mặt đều chứng quả A la hán.  

16. Sariputta (Xá Lợi Phất) và Moggalana (Mục Kiền Liên) trở thành hai đệ tử hàng đầu của Đức Phật  
Nhưng vì Tôn giả Xá Lợi Phất khẩn khoản yêu cầu, cho nên A la hán Assaji đọc câu kệ:  

"Sự vật bắt nguồn từ nhân duyên  

Đức Như Lai nói rõ nhân duyên đó  

Và bậc đạo sư cũng nói rõ  

Sự vật đó tiêu diệt như thế nào".  

Ngài Sariputta rất thông minh, chỉ mới nghe 2 câu kệ đầu đã chứng ngay Sơ quả. Sau đó, Ngài về baó tin cho người bạn thân Moggalana, và cả hai người cùng đến yết kiến Đức Phật ở tu viện Veluvana. Đức Phật thâu nhận hai ông vào Tăng chúng với câu nói đơn giản: "Etha Bhikkhave!" (Hãy đến đây! Các Tỳ kheo).  

Mười lăm ngày sau đó, Sariputta chứng quả A la hán, khi nghe Đức Phật giảng kinh Vedana Pariggha cho du sĩ ngoại đạo Dighanakha, còn Mục Kiền Liên thì chứng quả A la hán trước đó một tuần. Ngay chiều hôm Ngài Sariputta chứng quả A la hán, Đức Phật triệu tập Tăng chúng lại và tuyên bố hai Ngài là hai vị thượng thủ của Tăng đoàn.  

17. Đức Phật về thăm gia đình  

Thân phụ Đức Phật, vua Suddhodana bây giờ đã già yếu, nghe tin Đức Phật thành đạo và đang thuyết pháp ở thành Rajagaha (Vương Xá), vua rất nóng lòng được gặp lại con. Vua liền phái sứ giả đến Rajagaha (Vương xá), thỉnh cầu Đức Phật trở về thăm cố đô và gia đình. Nhưng các sứ giả của Vua, đến Vương xá, đuợc nghe Phật thuyết pháp, đều xin xuất gia làm Tỳ kheo và chứng quả A la hán.  

Vị sứ giả thứ mười là Kaludayi, vốn là người bạn thân cũ của Đức Phật, lúc Ngài cón là Thái tử. Ông này đến Vương xá, nghe Phật nói pháp, cũng xin xuất gia và không bao lâu chứng quả A la hán như chín vị sứ giả trước, Kaludayi không quên chuyển tới Đức Phật lời phụ vương mời Đức Phật về thăm gia đình. Đức Phật nhận lời, lên đường cùng với đông đảo đệ tử.  

18. Đức Phật và Phụ vương Suddhodana  

Đức Phật và các đệ tử của Ngài được vua Suddhodana, quần thần và dân chúng đón tiếp rất long trọng. Được nghe Đức Phật thuyết pháp, vua chứng ngay Sơ quả (Tư đà hoàn). Khi nghe bài thuyết pháp thứ hai, nhà vua chứng quả Thánh thứ hai, Sakkadagami (Tư đà hàm), còn bà dì Pajapati Gotami thì chứng Sơ quả (Sotapana - Tu đà hoàn). Lần thứ ba, Đức Phật giảng kinh Dhammapala Jàtaka cho vua cha, và vua cha chứng quả Thánh thứ ba (Anagami - A na hàm). Sách kể rằng, sau nầy, trên giừơng bệnh, vua cha lại được Đức Phật về thăm và giảng pháp. Lần nghe pháp cuối cùng này, vua chứng quả A la hán. Và sau bảy ngày tận hưởng lạc thú giải thoát, vua qua đời vào năm Đức Phật tròn 40 tuổi.  

19. Đức Phật và Công chúa Yasodhara (Da Du Đà La)  

Công chúa Yasodhara (Da Du Đà La) vốn là con gái vua Suppahuddha (Thiện Giác), đứng đầu dòng họ Koliya. Sau khi Thái tử rời bỏ hoàng cung, xuất gia cầu đạo, công chúa cũng bỏ hết đồ trang sức, mặc áo vàng của người nữ tu sĩ, và tận tình nuôi người con trai là La Hầu La đến tuổi khôn lớn.  

Ngày thứ hai Đức Phật đến thành Kapilavastu, Đức Phật cùng với đông đảo đệ tử đến dùng bữa ăn trưa tại hoàng cung, theo lời mời của vua cha. Sau bữa tiệc, Đức Phật cùng với vua cha và hai người đệ tử thân cận, Sariputta và Moggalana đến phòng công chúa. Sau khi Đức Phật vào phòng và ngồi vào chỗ xếp sẵn, công chúa đảnh lễ Phật với thái độ vô cùng cung kính. Đức Phật giảng truyện bổn sanh Candakinnara và nói: "Thưa phụ vương, không phải chỉ trong kiếp này, mà trong một kiếp sống trước, công chúa cũng đã từng bảo vệ tôi và thủy chung với tôi". Sau khi nhắc lại chuyện kiếp trước, Đức Phật an ủi công chúa và từ giã hoàng cung.  

Sau khi vua Suddhodana qua đời, bà dì là Pajapati xuất gia làm Tỳ kheo ni. Công chúa cũng xuất gia và không bao lâu chứng quả A la hán. Trong số các Tỳ kheo ni, công chúa là người giỏi phép thần thông nhất. Năm 78 tuổi, công chúa nhập Niết bàn.  

20. Đức Phật và Rahula (La Hầu La)  
Rahula (Hán dịch âm: La Hầu La) là người con trai độc nhất của Đức Phật, khi Đức Phật còn là thái tử. Lần đầu tiên Đức Phật trở về thăm cố đô và gia đình, sau ngày thành đạo, Rahula lên 7 tuổi, được bà dì là Maha Pajapati Gotami trực tiếp nuôi dưỡng, săn sóc. Mặc dù còn nhỏ tuổi, nhưng Rahula vẫn được chấp nhận vào Tăng đoàn, và được Đức Phật giao cho Ngài Sariputta trực tiếp dạy dỗ.  

Một trong những bài kinh nổi tiếng Đức Phật đích thân giảng cho Rahula sau khi Rahula xuất gia, là kinh Ambalatthika Rahulovada sutta, trong đó Đức Phật nhấn mạnh tầm quan trọng của tánh trung thực, của sự phản tỉnh để trừ diệt mọi ý niệm, lời nói và hành vi bất thiện, bất chánh.  

Nhờ luỵện tập phép tu thiền niệm hơi thở, theo lời chỉ dẫn của Đức Phật, và sau khi nghe giảng kinh Cula Rahulovada, Ngài Rahula chứng quả A la hán. Ngài qua đời trước Đức Phật và Ngài Sariputta.  

Trong "Trưởng Lão Tăng Kệ", có hai bài kệ như sau, của Rahula, sau khi Ngài chứng quả A la hán:  

"Nhờ ta được đầy đủ  

Hai đức tánh tốt đẹp  

Được bạn có trí gọi:  

'Rahula may mắn'  

Ta lại được pháp nhãn,  

Các lậu hoặc đoạn tận,  

Không còn có tái sanh  

Ba minh ta đạt được  

Thấy được giới 'bất tử'"  

21. Đức Phật và bà dì mẫu Pajapati Gotami (Ma Ha Ba Xà Ba Đề)  
Bà dì Gotami là em hoàng hậu Maya, và là vợ thứ của vua Suddhodana. Sau khi hoàng hậu Maya qua đời, bà lãnh trách nhiệm săn sóc, nuôi nấng Thái tử Siđacta.  

Lần đầu tiên Đức Phật về thăm thành Kapilavastu, sau ngày Ngài thành đạo, bà dì có trực tiếp xin Đức Phật cho xuất gia làm Tỳ kheo ni, nhưng Phật không chấp nhận, mà cũng không nói rõ lý do. Bà Gotami ba lần xin, Đức Phật đều từ chối. Sau khi rời Kapilavastu, Đức Phật cùng với số đệ tử đông đảo đến thành phố Vesali, ngụ tại tịnh xá Kutagara.  

Bà Gotami cùng với nhiều bà khác thuộc giòng họ Sakya, đầu cạo tóc, thân đắp y vàng, kéo nhau đến Vesali và đứng chờ ngoài cửa tịnh xá, nơi Đức Phật an nghỉ. Từ Kapilavastu đến Vesali, con đường dài 150 dặm. Bà Gotami và các bà giòng họ Sakya, chân sưng phồng, quần áo đầy bụi, vẻ mặt buồn bã nhưng kiên quyết, yêu cầu Ngài Ananda cho được gặp Đức Phật. Ngài Ananda động lòng thương xót, vào xin Đức Phật cho phép các bà được xuất gia làm Tỳ kheo ni. Ngài Ananda hai ba lần nài xin, Đức Phật đều không chấp nhận. Ngài bèn thưa với Phật rằng:  

"Nếu phụ nữ được xuất gia và tu học theo pháp và luật của đức Thế Tôn thì họ có thể chứng quả Thánh thứ nhất, quả Thánh thứ hai, quả Thánh thứ ba và cuối cùng có chứng được quả A la hán không?"  

Đức Phật trả lời là họ có khả năng chứng các quả Thánh nói trên. Ngài Ananda bạch tiếp: "Nếu họ có thể chứng được các quả Thánh thì cớ sao bà dì Gotami lại không được xuất gia theo Pháp và Luật của Đức Thế Tôn, vì bà dì đã trực tiếp nuôi nấng săn sóc Thế Tôn, từ ngày Đức Thế Tôn còn tấm bé".  

Đức Phật nói: "Nếu bà Gotami chấp nhận thực hành tám điều quy định nghiêm khắc sau đây, thì Ta cho phép Bà và các phụ nữ xuất gia, tu học dưới pháp và luật của Ta". Rồi Đức Phật nói ra tám điều qui định nghiêm khắc mọi quan hệ giữa Tỳ kheo và Tỳ kheo ni (xem luật Tỳ kheo ni). Ông Ananda đem 8 điều luật Phật nói thưa lại với bà dì Gotami và các bà khác. Các bà đều hoan hỷ nhận lời.  

Cho phép bà dì Gotami xuất gia và thành lập đoàn Tỳ kheo ni, Đức Phật đã thấy trước hậu quả của quyết định của mình. Ngài nói với đại đức Ananda rằng: "Này Ananda, nếu phụ nữ không được phép xuất gia và sống trong Pháp và Luật của Ta, thì cuộc sống Thánh hạnh của các đệ tử của Ta có thể giữ vững dài lâu, Chánh pháp cao cả của Ta có thể duy trì một ngàn năm, nhưng vì phụ nữ được phép xuất gia, cuộc sống Thánh của các đệ tử Ta sẽ không duy trì dài lâu, và từ nay Chánh pháp cao cả của Ta chỉ còn tồn tại 500 năm nữa mà thôi".  

"Cũng như, này Ananda, có những ngôi nhà có nhiều phụ nữ và ít đàn ông, những ngôi nhà đó rất dễ bị mất trộm. Nếu để phụ nữ xuất gia, sống trong Pháp và Luật của Như Lai, cuộc sống Thánh của các đệ tử sẽ khó mà duy trì dài lâu. Cũng như một người đắp một con đê để ngăn một bể nước lớn, không để cho nước tràn qua. Ta cũng vậy, Ta chế định ra 8 giới điều nghiêm khắc trên là để ngăn ngừa không để cho Tỳ kheo ni vi phạm".  

Những lời Phật dạy, tuy có thể không được thuận tai đối với phụ nữ, nhưng cũng phải nhận rằng, Đức Phật đã sớm thấy rõ, đối với phụ nữ nói chung, bản tánh mềm yếu và dễ cảm xúc, cuộc sống xuất gia không phải dễ dàng. Quan hệ giữa nam và nữ tu sĩ trong Tăng đoàn cũng dễ xãy ra nhiều chuyện rắc rối.  

Mặc dù vậy, Đức Phật là vị giáo chủ đầu tiên trong lịch sử nhân loại, cho thành lập một Ni đoàn với đầy đủ giới luật và uy nghi. Bà la môn giáo, và các tôn giáo khác đương thời ở Ấn Độ đều không có đoàn thể phụ nữ tu hành như vậy. Hơn nữa, trong thời Đức Phật còn tại thế và sau nầy, nhiều Tỳ kheo ni đã chứng quả A la hán và trở thành nổi danh trong hành tu sĩ, như chúng ta có thể đọc thấy trong cuốn "Trưởng lão ni kệ" thuộc Tiểu Bộ Kinh.  

22. Đức Phật và Tôn giả Ananda  

Ananda là anh em cô cậu với Đức Phật và là con của Amitodana, em vua Suddhodana, thân phụ của Đức Phật. Vì ngày ông sinh ra đem lại niềm hoan hỷ cho mọi người trong gia tộc, cho nên Tôn giả được đặt tên Ananda (Khánh Hỷ).  

Tôn giả Ananda xuất gia theo Phật, cùng với các thanh niên khác dòng họ Sakya, là Anuruddha, Bhadya, Bhaga, Kimbila, và Devadatta. Năm Đức Phật 55 tuổi, tôn giả Ananda được cử làm thị giả của Đức Phật. Trong suốt 25 năm trời, từ ngày ấy cho đến lúc Đức Phật nhập Niết bàn, Tôn giả Ananda luôn luôn ở bên cạnh Đức Phật, hầu hạ săn sóc Đức Phật, trong mọi nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Ông Ananda có một trí nhớ lạ lùng, ông ghi nhớ không bỏ sót tất cả các bài thuyết pháp của Đức Phật cũng như của một số đệ tử lớn của Đức Phật.  

Khi một Bà La Môn hỏi Tôn giả nhớ được bao nhiêu bài kinh, Tôn giả trả lời là có 82.000 bài của Đức Phật thuyết và 2.000 bài của các Tỳ kheo, đệ tử của Đức Phật thuyết. Đúng là có tổng số 84.000 bài kinh tất cả.  

Đức Phật tán thán năm đức hạnh của Tôn giả Ananda là: học uyên bác, trí nhớ tốt, kiên định, săn sóc chu đáo, ứng xử tốt.  

Mãi sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Tôn giả Ananda mới chứng quả A la hán. Đấy là do khi Đức Phật còn tại thế, tôn giả bận làm công việc thị giả, cũng như bận ghi nhớ các bài giảng của Đức Phật, như một đệ tử bác học đa văn. Tôn giả Ananda nhập Niết bàn, năm ông 120 tuổi.  

23. Đức Phật và Devadatta (Đề Bà Đạt Đa)  

Devadatta là con vua Suppabuddha và hoàng hậu Pamita, Pamita là một bà cô của Đức Phật, Devadatta xuất gia theo Phật, cùng một lượt với ông Ananda và các thanh niên quý tộc khác, thuộc giòng họ Sakya. Devadatta không chứng được quả nào, nhưng lại giỏi một số pháp thần thông, và được vua Ajattasattu (A Xa Thế) xứ Magadha ủng hộ. Mặc dù lối sống hư hỏng, và tà kiến, tà hạnh, Devadatta vẫn được một số khá đông người tán thành và phục tùng. Khi Đức Phật về già, Devadatta yêu cầu Phật trao cho mình quyền lãnh đạo Tăng già, nhưng Đức Phật kiên quyết không chấp nhận.  

Devadatta hết sức tức giận, và cùng với vua Ajattasattu âm mưu hại Phật. Nhưng các xạ thủ được Ajattasattu thuê giết Phật, đều bị Đức Phật thuyết giáo và trở thành đệ tử của Phật. Devadatta thấy tự mình phải hạ thủ sát hại Phật mới được. Một lần Đức Phật đang đi dọc bờ núi Gijjhakuta (Linh Thứu), thì Devadatta từ trên đỉnh núi đẩy xuống một tảng đá lớn. May mà tảng đá nầy lăn đụng phải một tảng đá khác và bị vỡ. Đức Phật chỉ xây xát và chảy máu ở chân.  

Một lần khác, Devadatta cho một con voi điên uống rượu, rồi xua voi húc Phật. Con voi chạy đến gần Phật thì bỗng nhiên đứng lại, bị thuần phục và được Phật xoa đầu. Sau lần âm mưu thất bại này, vua Ajatasattu sợ quá, không dám tiếp tục che chở cho Devadatta nữa.  
Devadatta bèn nuôi một âm mưu khác, xảo quyệt hơn: với một số Tỳ kheo xấu như Kokàlika, Devadatta muốn phá hoà hợp tăng, chia rẽ nội bộ Tăng già, Devaddata kiến nghị Đức Phật ban hành 5 điều luật mới như sau:  

Tăng sĩ phải sống suốt đời ở trong rừng.  

Chỉ được khất thực để ăn.

Chỉ được mặc áo làm bằng giẻ rách lượm ở nghĩa địa.

Chỉ được sống dưới gốc cây.

Suốt đời không được ăn cá thịt.

Đức Phật chỉ trả lời là các đệ tử có thể tùy ý sống theo hay không theo 5 giới điều ấy, nhưng Ngài không ép buộc họ. Devadatta lợi dụng sự từ chối của Đức Phật, lôi kéo được một số tăng sĩ trẻ, thiếu học thức và không có căn bản vững vàng, đi theo mình đến Gayasisa. Nhưng hai đệ tử lớn của Phật là Sariputta và Moggalana, theo chỉ thị của Đức Phật cũng đến Gayasisa, thuyết pháp cho họ nghe, và dẫn họ về trở lại với chánh pháp.  

Từ đó, tai nạn liên tiếp đến với Devadatta. Mắc bệnh nan y, trước khi chết, Devadatta ăn năn hối lỗi và tỏ ý muốn được gặp Đức Phật. Nhưng vì nghiệp ác quá nặng cho nên Devadatta chết mà không gặp Phật, và phải đọa địa ngục, chịu khổ trong nhiều kiếp.  

Về việc Devadatta, Đức Phật răn các Tỳ kheo rằng, vì Devadatta bị chinh phục bởi các ác ph&a

Read more: http://chaytinh.com/lich-su-duc-phat-thich-ca-72.html

 
Trang 1 trong tổng số 2 trang

Bánh mì

Bánh mì thơm ngon giòn rụm

Thuê máy photocopy

Cho thuê máy photocopy chuyên nghiệp các loại với giá tốt nhất . Thành công của các bạn là niềm vui của chúng tôi.


Dịch vụ ẩm thực

TIM VIEC NHANH

TÌM VIỆC NHANH thương hiệu nổi tiếng nổi tiếng tìm việc làm nhanh, tuyển dụng nhanh - xem chi tiết tại: viec lam , tuyen dung 


Logo QUANG CAO